HEC - Tổng Công ty Tư vấn Xây dựng Thuỷ lợi Việt Nam

Thủy lợi miền núi đến thời điểm nâng cấp


11:09' SA-19, 19/06/2013

Những khó khăn, thách thức

Hầu hết các tỉnh miền núi phía bắc nằm ở thượng nguồn các sông, suối. Do điều kiện địa hình đất đai bị chia cắt manh mún và có độ dốc lớn, dân cư ở phân tán, cho nên việc phát triển thủy lợi phục vụ sản xuất, khai hoang mở rộng diện tích canh tác và nước sinh hoạt cho nhân dân gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp.

Từ ngày hòa bình lập lại, Ðảng, Nhà nước và nhân dân các tỉnh miền núi phía bắc đã tập trung đầu tư nhiều công sức, tiền của để xây dựng các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất và đời sống, giải quyết yêu cầu về lương thực trên địa bàn. Hơn 5.000 nghìn công trình thủy lợi vừa và nhỏ được xây dựng bằng nhiều hình thức kiên cố, bán kiên cố nhằm đáp ứng yêu cầu nước tưới cho cây trồng, nước sinh hoạt cho dân cư vùng núi cao. Theo số liệu điều tra của Viện quy hoạch thủy lợi, tính đến năm 2003, các tỉnh miền núi phía bắc đã có 7.065 công trình thủy lợi, trong đó có 1.945 hồ chứa, 4.370 đập dâng, 750 trạm bơm điện và hàng chục nghìn công trình tiểu thủy nông gồm mương, phai, hồ, ao nhỏ, với tổng năng lực thiết kế ban đầu là 367.580 ha. Nhưng trong thực tế, đến nay diện tích được tưới chỉ là 278.527 ha. Tính cộng dồn, từ năm 1991 đến năm 2003, tổng kinh phí đầu tư để xây dựng 1.204 công trình thủy lợi ở khu vực này lên tới 2.529 tỷ đồng, nhưng diện tích tưới chỉ tăng được 78.527 ha. Ðiều này nói lên suất đầu tư cho xây dựng các công trình thủy lợi ở miền núi rất cao. Ông Ngô Xuân Bách, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Ðiện Biên cho biết: Suất đầu tư để xây dựng các công trình thủy lợi ở Ðiện Biên thấp nhất là 30 - 35 triệu đồng/ha, cao nhất tới 100 triệu đồng/ha. Phú Thọ là tỉnh núi thấp, theo ông Trần Văn Tiến, Trưởng phòng Thủy lợi, suất đầu tư cho xây dựng công trình thủy lợi bình quân cũng ở mức 50-70 triệu đồng/ha.

Có thể nhận định rằng, đến thời điểm này, hầu hết những vùng có khả năng trồng lúa nước ở các tỉnh miền núi đã được xây dựng các công trình thủy lợi với quy mô và hình thức khác nhau, bằng cả ba nguồn vốn đầu tư của trung ương, địa phương và nhân dân đóng góp. Nhưng do quá trình sử dụng nhiều năm, lũ lụt tàn phá, thiếu kinh phí đầu tư cho việc bảo dưỡng, sửa chữa hằng năm, cho nên hầu hết các công trình đã xuống cấp nghiêm trọng. Theo đánh giá của các địa phương, bình quân năng lực các công trình chỉ đạt 50-60% so với thiết kế, nhiều công trình đã hư hỏng. Hồ Bản Việt thuộc huyện Trùng Khánh (Cao Bằng) được thiết kế tưới cho 360 ha, đến nay vụ đông xuân chỉ tưới được 25 ha, vụ mùa tưới 50 ha. Công trình thủy lợi Ðồng Luận, huyện Thanh Thủy (Phú Thọ) thiết kế tưới cho 180 ha, đến nay chỉ tưới được 80 ha...

Trước thực trạng này, những năm gần đây, Nhà nước và nhân dân các tỉnh miền núi đã chú trọng đầu tư ngân sách và công sức cho việc nâng cấp các công trình thủy lợi, kiên cố hệ thống kênh mương và xây dựng mới một số công trình phục vụ chuyển dịch cơ cấu cây trồng. Nhưng trong thực tế, nguồn vốn này còn quá nhỏ so với yêu cầu của sản xuất. Trạm bơm tiêu Lê Tính (Phú Thọ) xây dựng từ năm 1985, với quy mô 13 máy loại 8.000 m3/giờ. Từ khi xây dựng đến nay chưa được sửa chữa, thay thế máy móc, cho nên đến nay chỉ tiêu được 1.200 ha (thiết kế 4.000 ha).

Cũng ở Phú Thọ, từ năm 1999 đến nay, toàn tỉnh mới xây dựng được 520 km kênh mương các loại, trên tổng số 1.634 km đã được phê duyệt thiết kế. Trong hai năm 2003-2004 không còn nguồn vốn vay để kiên cố kênh mương, trong khi nhân dân hăng hái đóng góp khoảng 50% kinh phí để làm. Những năm qua, tỉnh Tuyên Quang được đầu tư xây dựng thêm nhiều công trình thủy lợi, dẫn đầu các tỉnh miền núi về kiên cố hóa kênh mương, đến nay mới làm được khoảng hơn 50% mức kế hoạch. Hằng năm, vụ lúa đông xuân ở Tuyên Quang vẫn còn 3.500 ha (chiếm hơn 20% diện tích gieo cấy), vụ mùa gần 9.000 ha (hơn 30% diện tích gieo cấy) chưa được tưới nước từ các công trình thủy lợi.

Hầu hết những công trình thủy lợi ở miền núi có quy mô nhỏ, nằm gọn trong địa bàn một xã hoặc một HTX, cho nên việc quản lý, khai thác, vận hành đều do cơ sở tự quản lý. Do thiếu trình độ chuyên môn về thủy lợi, thiếu kinh phí duy tu, sửa chữa hằng năm, cho nên các công trình thủy lợi nhanh xuống cấp, hư hỏng.

Cần những giải pháp đồng bộ

Các cán bộ ở Cục Thủy lợi, Viện quy hoạch thủy lợi và cán bộ ngành chức năng ở các địa phương, cơ sở đều cho rằng: Ðầu tư nâng cấp các công trình thủy lợi hiện có đang là yêu cầu bức xúc, đây cũng là giải pháp hiệu quả kinh tế nhất đối với công tác thủy lợi ở các tỉnh miền núi trong những năm tới. Nhưng trong thực tế, nhiều năm nay nguồn vốn đầu tư của trung ương và địa phương cho thủy lợi miền núi đều ở mức rất thấp. Nhiều công trình làm mới, do đầu tư dàn trải, nhỏ giọt, kéo dài thời gian xây dựng, vừa giảm hiệu quả vốn đầu tư, vừa lãng phí và gây rất nhiều khó khăn cho chủ đầu tư cũng như các đơn vị thi công.

Công trình thủy lợi Tràng Vinh (Quảng Ninh) do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm chủ đầu tư, với tổng kinh phí gần 200 tỷ đồng mà sau gần chín năm xây dựng (1996-2005) công trình mới hoàn thành. Công trình hồ Thượng Long, huyện Yên Lập (Phú Thọ) khởi công tháng 7-2004, với vốn đầu tư của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là 21,45 tỷ đồng, nhưng đến nay mới cấp được một tỷ đồng. Nguồn vốn đầu tư sửa chữa, nâng cấp các công trình thủy lợi ở các tỉnh miền núi còn khó khăn và hạn hẹp hơn nhiều. Ông Trần Xuân Quý, Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Ðoan Hùng (Phú Thọ) cho biết: Huyện mới thu được thủy lợi phí của 700 ha ở những vùng tưới nước bằng bơm điện, 1.100 ha tưới nước từ hồ, đập chưa thu được thủy lợi phí cho nên không có kinh phí sửa chữa, nâng cấp công trình. Cán bộ thủy lợi ở các tỉnh miền núi đều lo ngại rằng, nếu không có kế hoạch đầu tư sửa chữa, nâng cấp, khi hàng loạt các công trình thủy lợi hư hỏng nặng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng sản xuất và đời sống nhân dân.

Vấn đề này cần được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các địa phương và Nhà nước quan tâm, cân đối đầu tư cho hợp lý giữa xây dựng mới và nâng cấp các công trình thủy lợi hiện có. Khoản kinh phí này cần được huy động từ nhiều nguồn. Tùy theo quy mô và yêu cầu kỹ thuật của từng công trình mà phân bổ cơ cấu đầu tư của trung ương, tỉnh, huyện và dân đóng góp cho phù hợp việc nâng cấp đồng bộ. Bên cạnh đó, cần xây dựng chính sách và cơ chế thu thủy lợi phí phù hợp thực tế để có nguồn kinh phí duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên cho công trình phục vụ được ổn định, lâu dài. Mặt khác, cần đổi mới và kiện toàn bộ máy tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi ở các địa phương, cơ sở, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, nhân viên quản lý, vận hành công trình. Ðể làm tốt vấn đề này, mỗi phòng nông nghiệp huyện đều phải có ít nhất một cán bộ kỹ thuật thủy lợi (nhiều huyện hiện nay không có cán bộ kỹ thuật thủy lợi để hướng dẫn quy trình vận hành và xử lý khi công trình gặp sự cố).

Ðầu tư kinh phí nâng cấp công trình, đổi mới và kiện toàn bộ máy quản lý, khai thác công trình thủy lợi từ tỉnh xuống đến huyện, xã và xây dựng cơ chế chính sách thủy lợi phí là ba biện pháp cần thực hiện đồng bộ là yêu cầu đặt ra với công tác thủy lợi ở các tỉnh miền núi thời kỳ CNH, HÐH đất nước trong những năm tới.

(Nguồn: nhandan.com.vn)

Số lượt xem: 89  -  Cập nhật lần cuối: 19/06/2013 11:18' SA
Thư viện ảnh

Tài nguyên

© 2012 Tổng Công ty Tư vấn xây dựng thủy lợi Việt Nam - CTCP
Địa chỉ: 95/2 Chùa Bộc, Đống Đa, Hà Nội - Tel: (024) 3852-6285 - Fax: (024) 3563-2169
Trưởng ban biên tập: Nguyễn Hữu Cường - Chủ tịch HĐQT
Số lượt truy cập: .
Số người trực tuyến: .
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,